A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

NGƯỜI THẦY GIÁO TÂM HUYẾT VỚI SỰ NGHIỆP TRỒNG NGƯỜI

NHÀ GIÁO LÊ XUÂN LAN

Tại trường Tiểu học Xuân Mộc, Quảng Xương

(Nay là trường Tiểu học Quảng Ngọc)

          Tháng 9 năm 1941, ông dạy ở trường Tiểu học Xuân Mộc thuộc Tổng Ngọc Đới (Quảng Xương). Xuân Mộc đóng ở phía Tây Nam huyện, là trường vùng miên, do nhiều thân hào, thân sĩ tiến bộ đứng ra vận động xây dựng từ thời Mặt trân Dân chủ, được Nhà nước lúc ấy chuẩn y.

          Ngoài trường Tiểu học Quảng Xương ở huyện lỵ, trường Xuân Mộc thu hút hàng năm trên dưới 300 học sinh bao gồm cả Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia.

          Trường có 6 lớp gồm 1 lớp 5, 1 lớp 4, 1 lớp 3, 2 lớp nhì ( lớp nhì đệ nhất, lớp nhì đệ nhị) và 1 lớp nhất.Năm đầu ông cũng dạy lớp nhị đệ nhất, về sau ông đều phụ trách lớp nhất.

          Nhà trọ của ông là gia đình cụ Nguyễn Văn Hào ở thôn Uy Hội ( nay thuộc Quảng Ngọc) cách trường khoảng 1km. Ngày mới về đây, thầy Thầy dáng người mảnh khảnh, yếu ơt, cụ Hào có phần e ngại. Nhà cụ thuộc vùng quê nghèo, không phải là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đường sá đi lại khó khăn, cách xa huyện lỵ và tỉnh  lỵ gần hai chục ki lô mét, nên cụ băn khoăn không có điều kiện giúp đỡ Thầy nhiều.

          Nhưng rồi qua nhiều câu chuyện, cụ nhận ra Thầy có tầm hiểu biết sâu rộng và là người có tâm huyết đối với học trò. Từ đó cụ Hào và người giáo viên trẻ coi nhau như thân nhân trong gia đình.

          Nhà cụ Hào neo người, một số bà con xung quanh thường đến giúp cụ và giúp đỡ cả Thầy trong một số sinh hoạt. Dần dần tình cảm giữa nhân dân và Thầy giáo không còn khoảng cách. Tối tối có ấm nước chè xanh, mọi người lại đến với Thầy trong nhiều câu chuyện gia đình, xã hội, chuyện làm ăn.

          Nhà cụ Hào trở thành nơi lui tới của nhiều người, có cả các chức sắc địa phương.

          Số học trò được biết phong cách sinh hoạt hòa nhã của Thầy đã mạnh dạn đến thăm, lúc thì hỏi bài, lúc thì giúp đỡ Thầy điều trị bệnh tật. Bệnh dạ dày và bệnh đường ruột của Thầy đã thành mãn tính, thầy phải ăn uống kiêng khem. Thầy thường nói với học trò " Phòng bệnh hơn chữa bệnh".

          Thời gian ở trường Xuân Mộc, ngoài phương pháp giảng dạy đề cao tính độc lập tư duy và việc dùng sổ tay tích lũy kiến thức như ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, ông còn dành nhiều thời gian chăm sóc cá biệt học trò.

          Đối với những học sinh yếu kém, ông thường tập trung riêng ngoài giờ để dạy thêm. Có những học sinh vì lý do này hoặc lý do khác, dù chỉ nghỉ học một buổi và không kể đường sá xa gần, ông đều đến tận nhà học trò thăm hỏi và giảng bài ngay tại chỗ.

          Những lúc thầy trò đi về cùng một đoạn đường, ông cũng không quên đi kèm với những học sinh cá biệt để tâm sự, bổ sung những điều cần thiết trong kiến thức và giáo dục động cơ học tập đúng đắn cho học sinh.

          Việc rèn luyện học sinh viết chữ đẹp cũng được ông quan tâm tích cực. Những học sinh viết chữ đẹp thường được ông gọi lên bảng viết mẫu cho cả lớp noi theo. Ông luôn nhắc nhở chữ viết cũng là một môn thi tốt nghiệp.

          Những học sinh có sự phấn đấu từ yếu kém vươn lên trung bình, khá , giỏi, đều được ông khen thưởng, cổ vũ kịp thời. Ông thường dặn dò " Chỉ có lòng quyết tâm của con người thì thắng lợi đưa đến mỗi ngày càng nhiều" (hồi ký của cựu học sinh Xuân Mộc).

          Bênh cạnh việc giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa cũng được thầy Lan coi trọng.

          Ngoại khóa môn Văn, ông đọc và bình nhiều thơ văn cổ điển có giá trị. Hồi ký của đông đảo cựu học sinh còn nhắc tới bài thơ " Phong kiều dạ bạc" của Trương Kế đời Đường ( Trung Quốc) mà ông thường đọc có âm điệu rất hay, giá trị nhân văn sâu sắc.

          Rồi thơ Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, thơ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, thơ Bà Huyện Thanh Quan..... đều được ông đem ra đọc, bình, đã khêu gợi những hoài niệm về non sông đất nước trong đông đảo học trò.

          Những buổi ngoại khóa về lịch sử, ông kể lại không biết mệt mỏi về các anh hùng dân tộc, về Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức - Ý - Nhật.

          Giảng giải về địa lý, ông thường nhắc tới việc đất nước bị chia làm ba miền với chế độ chính trị khác nhau, nhân dân ta không được đi lại môt cách tự do.

          Những giờ học, những buổi ngoại khóa, sưu tầm tư liệu, tham quan thật sinh động đã giúp cho học trò nhớ kỹ, nhớ lâu mà đến ngày nay cách hơn 60 năm, nhiều cựu học sinh vân còn nhớ. Đó là thành công lớn trong giảng dạy của một người thầy tâm huyết - Thầy Lê Xuân Lan.

          Nổi bật trong thành tích của ông là niên khóa 1943 - 1944, lớp nhất do ông phụ trách, hầu hết học sinh thi đỗ Prime, một thành tích kỷ lục của trường, dẫn đầu các trường trong tỉnh Thanh Hóa. Vang dội hơn nữa là học sinh Nguyễn Duy Hiệu ở Tĩnh Gia, học lớp ông, cũng trong năm này đã đỗ đầu Trung Kỳ trong kỳ thi học sinh giỏi môn Văn Quốc gia. Người học trò ấy đã  học được phương pháp tư duy trong bài văn mẫu của ông thời còn học ở Huế. Ngày trao giải, ông cùng hiệu trưởng, phụ huynh, học sinh Nguyễn Duy Hiệu tới tỉnh lỵ nhận phần thưởng.

          Thành công trên bắt nguồn từ một phương pháp giảng dạy có chất lượng cao như nhiều cựu học sinh của ông đã viết hồi ký: " Trong học tập, thầy Lê Xuân Lan thường dạy bảo chúng tôi hai điều quan trọng: một là phương pháp học thì phải nhớ những điều cốt yếu nhất, mà muốn nhớ thì phải ghi, hai là về thái độ học tập phải chăm chỉ và có phương pháp tư duy sáng tạo".

          Bốn năm ở Xuân Mộc (1941 - 1945) cũng là thời kỳ điểm nóng của Cách mạng Việt Nam. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương thả sức hoành hành cướp bóc, bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, bông, bắt phu, bắt lính phục vụ nhu cầu chiến tranh của chúng. Thực dân Pháp càng tăng cường đàn áp Cách mạng, vơ vét của cải của nhân dân, phòng khi phải cuốn gói ra đi. Nhân

dân ta bị " một cổ hai tròng" đè nặng, dẫn đến một hậu quả hết sức khủng khiếp là nạn đói năm 1945 đã làm chết trên 2 triệu người dân một cách thảm thương. Song, từ đói rét, khổ đau, ngọn lửa Cách mạng đã bùng lên khắp nơi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương ( nay là Đảng cộng sản Việt Nam), Mặt trận Việt Minh ra đời (1941) đã và đang giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc chuận bị thời cơ cứu nước cứu nhà, giành thắng lợi quyết định.

          Năm 1943, Đảng bộ cộng sản Việt Nam Thanh Hóa được khôi phục, sau nhiều năm gián đoạn bị kẻ thù đánh phá ác liệt. Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về việc xây dựng Mặt trận Việt Minh, Đảng bộ Thanh Hóa đã chỉ đạo kịp thời việc thành lập Tỉnh bộ Việt Minh. Các tài liệu tuyên truyền của tỉnh như bộ báo " Gái ra trận", sau là " Đuổi giặc nước" ấn loát ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa đã truyền về nhiều nơi thuộc các phủ huyện.

          Được ảnh hưởng báo chí Cách mạng của Đảng bộ tỉnh, ở Quảng Xương lúc này, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân trong huyện, nhất là nông dân chống thu thóc, thu bông, chống đi phu, đi lính diễn ra lúc âm ỉ, lúc mạnh mẽ.

          Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, các tổ chức cứu quốc bí mật đã thành lập ở nhiều làng, xã. Tại trường Xuân Mộc, nhóm " giáo viên cứu quốc" và " học sinh cứu quốc" được hình thành với sự tham gia tích cực của ông Lê Xuân Lan và số giáo viên có tâm huyết. Một số thanh niên học sinh đã lập ra " Hội đá bóng". Trên cơ sở đó việc giao lưu giữa học sinh nhà trường với thanh niên các vùng trong huyện và thị xã Thanh Hóa lúc này được tổ chức thường xuyên qua các cuộc đấu bóng giao hữu. Phong trào đã có tác dụng khơi dậy sự đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân đi vào thời kỳ lịch sử vận động giải phóng dân tộc.

          Cuối tháng 5 năm 1945, thầy giáo Lê Xuân Lan từ giã ngôi trường và học sinh thân yêu có nhiều kỷ niệm sâu sắc trở về quê tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng.

          Nhìn lại chặng đường bước vào nghề sư phạm, với sự nghiệp " trồng người", thầy giáo Lê Xuân Lan đã giảng dạy ở hai cơ sở Đức Thọ, Hà Tĩnh và Xuân Mộc, Quảng Xương, Thanh Hóa. Từ đạo đức lương tâm của một nhà giáo có lòng ưu ái đối với học trò, người thầy ấy đã gặt hái được những thành công bằng phương pháp giảng dạy sáng tạo, gắn với thực tế, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, một phương pháp rất mới mà thời bấy giờ chưa có được, đã góp phần khơi dậy tư duy độc lập trong việc phát huy trí lực học sinh là chính. Đạo đức nghề nghiệp và khuôn mẫu sư phạm của người thầy đến nay còn đọng mãi trong lớp học trò mà cuộc đời và tuổi tác nay thuộc lớp người " xưa nay hiếm" qua những trang hồi ký chân thành đầy xúc động:

          Nhớ thầy Lan xưa dáng người mảnh dẻ, tính tình điềm đạm, ôn hòa mà nghiêm túc, trầm tư mà đĩnh đạc, lương tâm và tri thức thì vời vợi mà cuộc sống vật chất thì

thanh đạm không hơn gì bà con nông dân thời đó. Bằng cách sống mẫu mực, thương yêu học trò như con em mình và bằng phương pháp sư phạm chặt chẽ đến nghiêm khắc, lứa chúng tôi đã được thầy trang bị cho một kiến thức cơ bản để bước vào đời, bước vào công cuộc giành giữ độc lập thống nhất Tổ quốc".

          Cuộc đời và sự nghiệp " trồng người" của thầy giáo Lê Xuân Lan đã ăn sâu vào trái tim học trò là thế.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tài liệu
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 35
Tháng 10 : 205
Tháng trước : 362
Năm 2019 : 6.229
Năm trước : 1.735
Tổng số : 7.979